Lượt truy cập
Đang online : 557
Chi tiết

Mất cân bằng giới tính khi sinh: Thực trạng và giải pháp

Ngày Cập nhật : 24-01-2013

Đến nay mới chỉ có một quốc gia duy nhất là Hàn Quốc đưa được tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở về mức bình thường (103-106). Hàn Quốc mất cân bằng giới tính khi sinh vào những năm 1980 thì đến năm 2005 họ mới đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức 107 bé trai/100 bé gái. Như vậy, họ mất 25 năm để giảm tình trạng này và đến bây giờ cũng mới chỉ có họ là quốc gia duy nhất làm được vấn đề này. Trung Quốc là nước mất cân bằng giới tính khi sinh trầm trọng, họ đã có những biện pháp vô cùng quyết liệt nhưng đến năm 2010 tỷ số giới tính khi sinh vẫn ở mức rất cao 122,8/100.

Mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam có đặc điểm khác với những quốc gia khác. Thứ nhất, xuất hiện muộn hơn nhưng với tốc độ nhanh hơn. Nếu các nước trong khu vực xảy ra từ những năm 1980 thì Việt Nam chính thức tỷ số giới tính khi sinh làm nóng dư luận xã hội là vào năm 2006. Kể từ đó đến nay, tỷ số này luôn trên 110 bé trai/100 bé gái và xu hướng này còn tiếp tục tăng. Có đến 5/6 vùng kinh tế - xã hội, 51/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đang ở trong tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Theo điều tra biến động dân số hàng năm thì tính đến ngày 01/4/2012, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 112,3/100. Thứ hai, tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta diễn biến phức tạp hơn ở các nước khác. Nếu ở các nước khác, tỷ số giới tính khi sinh hoàn toàn bình thường ở lần sinh thứ nhất và cao hơn ở lần sinh thứ hai. Ở Việt Nam, tỷ số này cao ngay từ lần sinh đầu tiên và cao nhất ở lần sinh thứ ba trở lên (115,5/100). Đối với những gia đình mới chỉ sinh được 2 con gái thì ở lần sinh thứ ba, tỷ số giới tính khi sinh lên tới 130/100. Trong khi tỷ số giới tính khi sinh của phụ nữ ở nhóm 20% dân số nghèo nhất đều nằm ở mức bình thường (105-106) và nhỉnh hơn một chút ở lần sinh thứ ba (108) thì ở nhóm dân số trung bình, giàu và giàu nhất, tỷ số này ở mức cao ngay từ lần sinh thứ nhất (111-112). Đặc biệt ở lần sinh thứ ba thì ở cả ba nhóm dân số này, tỷ số giới tính khi sinh rất cao: 116, 121 và 133 lần lượt từ mức thu nhập trung bình, giàu và giàu nhất. Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra ở thành thị và nông thôn và có sự khác biệt giữa hai khu vực này (nông thôn 111,1 và thành thị 114,2). Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh của phụ nữ 15 – 49 tuổi ở khu vực thành thị có sự lựa chọn giới tính ngay từ lần sinh đầu trong khi đó sự lựa chọn giới tính khi sinh của khu vực nông thôn chỉ xuất hiện ở lần thứ hai trở đi. Tỷ số giới tính khi sinh của lần sinh thứ ba là 120/100 đối với cả thành thị và nông thôn.

Quân y Bộ đội Biên phòng tuyên truyền về mất cân bằng giới tính khi sinh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Theo kết quả nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam, có ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đó là:

- Nhóm nguyên nhân cơ bản: Việt Nam là một quốc gia Châu Á có nền văn hóa truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Một trong những giá trị của Nho giáo là mô hình gia đình truyền thống, trong đó việc nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ là những giá trị nền tảng. Trong văn hóa đó, tâm lý thích con trai trở nên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi có 70% dân số đang sinh sống. Người già hầu hết không có lương hưu hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc y tế, tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cháu, theo quan niệm của gia đình truyền thống trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai. Người già vì thế cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già khi không có con trai...Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi cá nhân và trở thành một phần của nền văn hóa Việt Nam. Ưa chuộng con trai chính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam.

- Những nguyên nhân phụ trợ: những chuẩn mực xã hội mới như gia đình quy mô nhỏ 1 đến 2 con cũng tạo áp lực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 đến 2 con. Điều này dường như xung đột với giá trị văn hóa truyền thống là phải có con trai bằng mọi giá. Chính sự xung đột này đã tạo áp lực cho các cặp vợ chồng: vừa muốn có ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai. Đây là động lực khiến các cặp vợ chồng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh.

- Nguyên nhân trực tiếp: lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như: áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn, chọn ngày phóng noãn...), trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y...; hoặc sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối...) để chẩn đoán giới tính thai nhi, sinh kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là con trai thì để lại, là con gái thì phá đi).

Tình trạng gia tăng chỉ số giới tính khi sinh dẫn đến hệ lụy khó lường về mặt xã hội, thậm chí cả an ninh chính trị khi thế hệ trẻ em sinh ra hiện nay bước vào độ tuổi kết hôn (ở Việt Nam thời điểm này sẽ xảy ra vào khoảng năm 2025 đến 2030). Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ làm cho bất bình đẳng giới ngày càng gia tăng, tỷ lệ tội phạm liên quan đến tình dục sẽ ngày càng cao hơn và trong một chừng mực nào đó, người con gái sẽ trở thành món hàng bị buôn bán, tỷ lệ kết hôn của phụ nữ sẽ sớm hơn, sự tranh giành giữa những người đàn ông để có được người phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ tái hôn sẽ cao hơn. Các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã phải “nhập khẩu” cô dâu và phần lớn trong số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đã trở thành cô dâu ở các nước và vùng lãnh thổ nói trên. Đây cũng là cảnh báo cho Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên có thể nhận thấy rõ ràng, đến khi Việt Nam phải đối mặt với sự thiếu hụt phụ nữ thì chúng ta khó có thể “nhập khẩu” được cô dâu từ nước láng giềng và sẽ đối mặt với vấn đề này khó khăn hơn các nước khác nhiều.

Tỷ số giới tính khi sinh liên quan đến vấn đề văn hóa, phong tục, tập quán của người dân từ hàng ngàn năm nay nên chúng ta phải ứng xử với việc mất cân bằng giới tính khi sinh như là một vấn đề văn hóa. Chúng ta không thể nóng vội mà phải làm từng bước, huy động cả hệ thống chính trị và thực hiện đồng bộ các giải pháp, các giải pháp này phải được xây dựng từ thực tiễn đặc thù của Việt Nam và được đúc kết từ các bài học kinh nghiệm của các nước bạn. Để giảm được tỷ số giới tính khi sinh, phải có chính sách ưu tiên đối với phụ nữ, ưu tiên đối với những gia đình sinh con một bề là gái chứ không chỉ dừng lại ở bình đẳng giới. Cần rà soát sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, tuyệt đối cấm mọi hình thức lựa chọn giới tính khi sinh. Tuy nhiên, trong tất cả các giải pháp quan trọng nhất vẫn là truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi của người dân. Bên cạnh đó, việc tăng cường cam kết chính trị phải được đặt lên hàng đầu bởi một mình ngành dân số không thể đạt được sự thành công trong việc kiểm soát, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh nếu không có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với sự tham mưu nồng cốt của ngành Dân số - KHHGĐ và sự tham gia tự nguyện của người dân.

Bài và ảnh Việt Dũng – Chi cục DS-KHHGĐ

In trang này Gửi cho bạn bè

Ý kiến của bạn

Tìm kiếm
Thông báo
  • Cách viết bài đăng lên web

    Để hỗ trợ các anh chị muốn đăng bài viết lên Website của Sở, BBT cung cấp hướng dẫn cách viết bài http://dohquangtri.gov.vn/tai-lieu/825-cam-nang-viet-tin-bai-dua-len-web.html

Phim tư liệu
Danh hiệu thi đua
1 2 3 4 5
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Tỉ giá , Thời tiết
  Bảng giá vàng 
  Tỷ giá ngoại tệ  
  Thời tiết 
Liên kết website