Chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập thành phố Đông Hà 11/8 (2009-2019): Đông Hà mà tôi mến yêu

Khi lần đầu tiên nghe bài hát Đông Hà, thành phố tương lai của nhạc sĩ Hoàng Sông Hương, đứa bé mười lăm tuổi lúc ấy là tôi đã bồi hồi xúc động. Trước những điều tương tự, con người thường lý giải cho mình rằng nó xuất phát từ lòng yêu quê hương. Cảm giác ấy giờ đây vẫn còn in đậm trong tôi, cho dẫu thời gian hơn ba mươi năm đã qua đi.

– “Mạ sinh con trong cái cảnh bom đạn nổ ngày này qua đêm khác ở khắp Đông Hà, Quảng Trị mình đây…”. Bây giờ, ký ức của mạ tôi vẫn chưa hết những ngày khốc liệt của chiến tranh. Đó là những ngày tháng ba, tháng tư năm 1972. Tôi không dám chắc ngày cất tiếng khóc chào đời mình hạnh phúc hơn hay hôm nay mình hạnh phúc hơn. Chỉ có điều, khi rời khỏi ánh mắt yêu thương của mạ, tôi bước đi trên những con đường trong thành phố, lòng chợt nghe câu hát Đông Hà mà ta mến yêu… dâng đầy trở lại.

Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro đến Đông Hà trong chuyến thăm Quảng Trị vào năm 1973 (Ảnh: Sĩ Sô)

Ngày tôi tròn một tháng tuổi, cờ giải phóng tung bay trên căn cứ Đông Hà. Từ đó đến nay đã bốn mươi bảy năm. Trong ngần ấy thời gian, những chủ nhân mới của vùng đất nắng lửa, gió Lào và bụi đỏ này đã thực hiện một cuộc chạy đua với thời gian để biến niềm mơ ước của ngày chiến thắng thành sự thật. Những người như tôi thuộc lớp hậu sinh, lớn lên đã thấy quê hương im tiếng súng, bom nhưng chúng tôi lớn lên trong những nhọc nhằn, gian nan của cuộc đời đặt lên vai mọi người sau một cuộc chiến. Chúng tôi là những người chứng kiến từng ngày mồ hôi của mạ, của ba, của o, của bác và của anh của chị… trộn vào đất, đá nơi đây để khỏa lấp những vết thương chiến tranh và để xóa đói giảm nghèo. Đó là điều mà tất cả chúng tôi không đếm được, không quên được. Cũng chính từ những giọt mồ hôi ấy mà trong rất nhiều hồi niệm của tôi về quê nhà chưa bao giờ vắng đi hình ảnh của một miền đất đã được thức dậy, được hồi sinh sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá nặng nề.

Đến Quảng Trị sau ngày giải phóng, một nhà báo phương Tây đã bình luận không một chút đắn đo, cân nhắc: -“Mảnh đất này bị chiến tranh hủy diệt đến 200%”. Khó có thể hình dung chính xác về mức định lượng ấy nhưng tôi không thể nào quên cái thị xã Đông Hà ngày ấy hoang tàn đổ nát như thế nào. Đâu đâu trên mảnh đất này cũng chỉ toàn là những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ… dưới hơi nóng của những đợt gió Lào thổi tràn. Những ngôi nhà được dựng lại trên tro tàn. Ngày đất nước thống nhất, người Đông Hà quay trở lại với dòng sông Hiếu ngày một nhiều hơn. Dẫu rằng đó là sự trở về với hai bàn tay trắng và những đau thương mất mát tính bằng máu xương của một thời loạn lạc. Bắt đầu từ đó, họ chung sức chung lòng xây dựng cuộc sống mới. Cái đận khởi đầu ấy quả thật gian nan bởi vùng đất nhỏ bé này có quá nhiều phế phẩm của chiến tranh hơn đất đai, ruộng đồng màu mỡ. Tuổi thơ tôi trôi qua trong những ngày ba tôi và nhiều người khác, sau thời gian làm việc ở hợp tác xã phải đi tháo dây thép gai, kiếm phuy xăng hỏng… ở khu sân bay cũ về làm vách nhà. Một buổi chiều như bao buổi chiều, anh em tôi ngồi học bài bên bàn, đợi ba tôi về và rồi ba tôi xuất hiện ở bậc cửa ra vào nhà với nét mặt ủ dột. Thì ra, chiều hôm đó, người cùng đi gỡ thép gai với ba tôi đã chết vì vấp phải mìn. Thời gian ấy, sau mấy tháng sinh con nhỏ thì mạ tôi bị mất sữa, em bé khóc ngằn ngặt. Ba tôi gạn nước cơm mớm cho em trong lúc nước mắt mạ tôi lã chã rơi. Chợ Đông Hà ngày ấy chưa mấy đông, hàng hóa ít và mạ tôi trồng rau muống, bầu, bí, khoai, môn đem đổi chén cá, mớ tôm. Đường đi lối lại phần lớn vẫn còn bị khuất lấp bởi nhiều cỏ dại. Và, niềm vui của đám trẻ con chúng tôi ngày đó là nỗi mong chờ cái ngày đến lượt xóm nhà mình lại có điện thắp sáng thay ánh đèn dầu yếu ớt trong những lúc học bài ở nhà. Mơ ước trong tôi về một thị xã thân thương sáng bừng ánh điện được gieo mầm từ đó. Điều ấy vượt lên cả nỗi khát khao không còn ăn bo bo, cơm độn sắn chan nước mắm mậu dịch. Cũng chính từ ước mơ thời bé con đó mà ba, mạ tôi chắt chiu từng hào nhỏ nuôi anh em tôi ăn học. “Ấu nhi học, tráng nhi hành”, tôi tin vào câu nói đó theo từng ngày thấy thế hệ sinh ra chúng tôi đã và đang phát quang nhiều hướng đi tới một con đường rộng mở và tươi sáng cho mai hậu. Ngày ấy, cả phường Một- nơi đông dân nhất của thị xã mới có vài trăm nóc nhà với nhiều ao tù và bóng tối, phường Hai hiu hắt với những ao hồ, phường Năm heo hút với những khu đồi lóc xóc đá sỏi và bụi rậm. Trẻ con chúng tôi không dám ra khỏi nhà vào buổi tối, không được đi xa hơn xóm mình để bắt chuồn chuồn, đuổi bướm…

Cho đến bây giờ, thời gian vẫn neo trong ký ức của tôi hình ảnh xác những chiếc xe tăng nằm dưới chân cái lô cốt đen ngòm trên đỉnh dốc của đường 9 A- nơi cao nhất của thị xã hồi ấy. Sau giờ tan lớp, chúng tôi thường đến đó, trèo lên những khối thép im lìm ấy chơi trò trốn tìm. Ở đó, cũng sau giờ tan học, anh trai của tôi đặt thùng đồ nghề sửa xe đạp lúc vừa tròn bảy tuổi để kiếm tiền giúp ba, mạ. Suốt những mùa hè gay gắt nắng lửa và gió Lào, mùa đông mưa dầm gió bấc như thế làm anh trai của tôi bớt hồn nhiên ít nhiều. Nhưng anh ấy vẫn nhường cho tôi và những đứa em sau nữa chiếc khăn quàng đỏ mới tinh, cuốn vở đẹp hay ngòi viết tốt là phần thưởng của anh qua mỗi năm học xuất sắc. Thuở ấy, trên mảnh đất này có bao nhiêu người anh như thế ai nào dễ đếm được.

Chẳng lẽ, Đông Hà của người Đông Hà cứ hoài cơ cực, cứ mãi chịu những cơn khát của vùng đất khát. Nhiều gia đình đã ra đi. Họ vào miền Nam tìm cuộc sống dễ dàng hơn ở những vùng kinh tế mới. Hàng xóm của chúng tôi vẫn lại là một đại úy của quân đội Sài Gòn trước tháng tư năm 1975. Sau mấy năm học tập, chú ấy trở về với chiếc xe đạp cũ để đi thồ, nuôi bốn đứa con tuổi bằng anh em tôi. Vợ của chú là một giáo viên tiểu học. Đó là một phụ nữ xinh đẹp nhưng những năm tháng đó cô ấy cũng đã nhanh chóng quên việc tô lục chuốt hồng để cuốc mảnh đất cằn khô sau nhà mà trồng rau, nuôi lợn. Có hàng ngàn gia đình như thế ở cái thị xã Đông Hà nhỏ bé thời ấy. Họ quen dần với tem phiếu, mậu dịch quốc doanh trong nhiều thiếu thốn của cuộc sống thường nhật. Nhưng, điều lạ lùng hơn hết là người ta vẫn sống với những hy vọng, vẫn yêu nhau, sinh con đẻ cái, cho con cái đến trường trong chính những nhọc nhằn của họ. Sau này tôi mới hiểu họ đã sống bằng sức lao động, niềm tin và hy vọng về ngày mai. Bởi họ đã thấy cái ngày cả một vùng đồng bằng Triệu Hải đồng khô cỏ cháy nẻ chân chim bị bỏ hoang vào mùa hè, ngập trắng bờ vào mùa mưa thành bờ xôi ruộng mật khi dòng nước của công trình đại thủy nông Nam Thạch Hãn mà họ góp sức đào, đắp chảy về. Rồi hạt lúa củ khoai sẽ ngày thêm căng mẩy, dồi dào và ngọt bùi hơn.

Bây giờ, đứng trên cầu Đông Hà nhìn xuống dòng sông yên bình chảy với xôn xao thuyền xuôi ngược, nhìn người người nhộn nhịp mua bán trong ngoài khu chợ khang trang bề thế, tôi cứ ngỡ mình đang mơ. Dường như chỉ mới hôm qua, tôi còn nghe câu hát gặp lại em nhớ câu hò hẹn, giải phóng quê hương ta đi vào nhà máy, giải phóng quê hương ta xây lại Đông Hà… Tôi đã yêu bài hát ấy, đã sung sướng trong lần đầu nghe người khác hát lên giữa những gian nan của Đông Hà ngày nào và mang theo bài hát ấy vào trường đại học đúng ngày chia tách tỉnh Bình Trị Thiên. Đông Hà trở thành trung tâm của tỉnh Quảng Trị. Kiến thiết và dựng xây. Tôi đã rất ngỡ ngàng khi về thăm nhà lần đầu tiên trong đời sinh viên của mình, thấy cái lô cốt cùng những xác xe tăng trên đỉnh dốc kia không còn nữa. Và kìa, nhà máy xi măng đang nhả khói bên những công trình xây dựng đang mọc lên. Vậy là nhạc sĩ Hoàng Sông Hương đã đúng khi ông tiên cảm được Đông Hà sẽ đổi mới, đi lên. Có lẽ, điều đó xuất phát từ lòng tin và niềm hy vọng. Hay chính nhạc sĩ nói thay người Đông Hà mơ ước của chính họ từ những ngày khó nhọc về một Đông Hà, thành phố tương lai. Tương lai của ngày ấy đã thành hiện thực hôm nay. Dẫu vẫn còn bề bộn công việc phải làm để thành phố giàu và đẹp hơn nhưng tôi đã nghe những người đi xa Đông Hà hàng chục năm nay trở về cứ xuýt xoa trước những đổi thay của Đông Hà để có được ngày sánh bước cùng cả nước trên con đường đến ấm no, hạnh phúc.

Thắp sáng Đông Hà (Nguồn: Internet)

Không còn nữa một Đông Hà ngủ sớm trong những đêm mất điện. Phố phường giờ đây rộn rã tiếng người, xe qua lại. Đã qua rồi cái thời những đoàn xe quá cảnh từ nước bạn Lào lao nhanh trên những con đường nhỏ hẹp của thị xã Đông Hà, để lại những đám bụi đỏ xám khổng lồ trước ánh mắt sợ hãi của các em nhỏ. Vùng đồi phường Năm hoang vắng ngày trước đã trở nên đông vui cùng phường Một, phường Hai. Những miền quê Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lương, Đông Lễ đã ấm sáng từng mái nhà dân, từng ngôi trường. Con người đã có đôi chút thảnh thơi trên đồng ruộng, trong nhà máy để ngẩng nhìn quê nhà với nụ cười rạng rỡ. Những đứa trẻ sau 30/4/1975 nay đã thành một thế hệ chủ nhân mới đĩnh đạc, đường hoàng của Đông Hà. Các cuộc trò chuyện giữa những chủ nhân mới ấy của Đông Hà hôm nay là cơ chế thị trường với nhiều thuận lợi và thách thức, những cách làm giàu chân chính từ gia đình đến xã hội, là vốn đầu tư, công nghệ tin học, thị trường chứng khoán, luận án nghiên cứu sinh… Cũng từ những con người trẻ tuổi đó, thấy rõ con đường xuyên Á, cảng Cửa Việt, khu thương mại quốc tế Lao Bảo, đường Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Đông-Tây đã và đang thêm giàu thêm đẹp cho Đông Hà.

Mới hôm nào đấy thôi, đi giữa Hà Nội nhộn nhịp hay Huế thơ mộng và Sài Gòn phồn vinh, lòng tôi rưng rức niềm nhớ và thấy Đông Hà của mình còn lắm gian nan, nghèo khó. Đó cũng là lúc càng yêu thêm mảnh đất quê nhà. Để rồi hôm nay nghe trong gió quê nhà những chuyện vừa quen vừa lạ mà khấp khởi mừng vui với hy vọng và tin yêu quê nhà của mình xây tiếp những tầng cao cao mãi. Hiện thực đó của Đông Hà mà tôi mến yêu khiến tôi mong ước các nhạc sĩ viết thêm thật nhiều ca khúc về Đông Hà-thành phố hôm nay và mai sau.

NGUYỄN BỘI NHIÊN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *