Nâng cao nhận thức trong phòng chống bệnh ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là căn bệnh rất nguy hiểm, gây ra gánh nặng và những tổn thất vô cùng to lớn về sức khỏe và tinh thần cho bản thân người phụ nữ mắc bệnh và cả những người thân trong gia đình nhưng nhận thức của phụ nữ trong cộng đồng về căn bệnh này còn hạn chế, dẫn đến thiếu ý thức phòng bệnh, đặc biệt là phụ nữ trẻ và các bậc phụ huynh có trẻ gái vị thành niên. Vẫn còn rất ít người biết rằng đây là ung thư có thể phòng ngừa được bằng những biện pháp không hề phức tạp như tiêm ngừa để phòng tránh vi rút gây bệnh và đặc biệt việc chủng ngừa nên thực hiện cho trẻ gái từ sớm, trước giai đoạn trẻ quan hệ tình dục. Để hiểu rõ hơn về bệnh UTCTC, Chuyên mục SKCMN có cuộc trao đổi với bác sĩ Hoàng Quốc Vũ, Giám đốc Trung tâm SKSS tỉnh Quảng Trị.

Người dân được hướng dẫn khám tầm soát ung thư

–  Xin chào bác sĩ, xin bác sĩ cho biết rõ hơn về tình hình bệnh UTCTC ở Việt Nam nói chung và tại Quảng Trị nói riêng trong giai đoạn hiện nay?

UTCTC là bệnh lý ác tính của biểu mô cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong. UTCTC tạo ra các gánh nặng bệnh tật lớn cho người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội. Về kinh tế, UTCTC gây thiệt hại thứ 5 trong số các loại bệnh ung thư thường gặp nhất.

Năm 2010, tại Việt Nam có 5.664 phụ nữ mắc UTCTC, tỷ lệ mắc mới đã chuẩn hóa theo tuổi (ASR) là 13,6/100.000 phụ nữ. Năm 2018 là năm đầu tiên Quảng Trị triển khai kế hoạch tầm soát UTCTC. Hiện nay rất tiếc chưa có nghiên cứu nào trên địa bàn nên chưa có số liệu cụ thể.

– Vậy nguyên nhân và yếu tố nào gây nên bệnh UTCTC,  thưa bác sĩ?

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung đến nay đã được xác định là vi rút HPV (tên đầy đủ là Human Papillomavirus). Vi rút HPV là bệnh lây qua đường tình dục. HPV rất phổ biến đến nỗi gần như tất cả đàn ông và phụ nữ có quan hệ tình dục đều bị bệnh này tại một số thời điểm nào đó trong đời. Nguy cơ nhiễm HPV ít nhất 1 lần trong đời của người phụ nữ là khoảng 80%. Trong phần lớn trường hợp, HPV sẽ tự khỏi và không gây ra bất cứ vấn đề sức khỏe nào. Một số tuyps vi rút HPV nó có thể gây mụn sinh dục và ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật, hậu môn, ung thư miệng họng và nhất là ung thư cổ tử cung. Sau lần nhiễm HPV đầu tiên, khoảng 5-10% các trường hợp có thể hình thành các biến đổi ở cổ tử cung do HPV.

Các yếu tố nguy cơ của UTCTC bao gồm: quan hệ tình dục sớm hoặc với nhiều người, không an toàn; sinh nhiều con; vệ sinh sinh dục không đúng cách; viêm cổ tử cung mạn tính; nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục; điều kiện dinh dưỡng, kinh tế xã hội thấp; hút thuốc lá, đái tháo đường.

Nếu có phối hợp với các yếu tố nguy cơ khác, tổn thương ban đầu có thể tồn tại và tiến triển trong khoảng 10 – 20 năm qua các giai đoạn tân sản nội biểu mô để hình thành ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Độ tuổi và tần suất sàng lọc: Nhóm đích là các phụ nữ trong độ tuổi 21-65 đã quan hệ tình dục, ưu tiên phụ nữ trong độ 30-54; phụ nữ có kết quả tế bào cổ tử cung hoặc VIA âm tính sẽ được sàng lọc lại sau 3 năm, phụ nữ có test HPV âm tính sẽ được sàng lọc lại sau 5 năm. Sử dụng xét nghiệm tế bào cổ tử cung hoặc xét nghiệm HPV để sàng lọc cho phụ nữ trên 50 tuổi, đặc biệt là phụ nữ đã mãn kinh, do test VIA không phù hợp với độ tuổi này.

– Theo bác sĩ thì có những biện pháp dự phòng nào cho người dân trong phòng chống bệnh UTCTC?

Các phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung đã được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo và nhiều quốc gia trên thế giới triển khai bao gồm dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3.

Về dự phòng cấp 1 bao gồm tuyên truyền giáo dục nhằm giảm lối sống tình dục có nguy cơ cao, quan hệ tình dục an toàn, tránh hoặc làm giảm các yếu tố nguy cơ khác như lập gia đình sớm, có con sớm, hút thuốc lá (kể cả chủ động và thụ động). Tiêm vắc-xin phòng nhiễm HPV.

Vắc-xin HPV hiện đang được cung cấp dưới dạng vắc-xin dịch vụ cho trẻ em nữ và phụ nữ trong độ tuổi 9-26 với liệu trình 3 mũi tiêm trong vòng 6 tháng. Chi phí cho liệu trình 3 mũi tiêm trong khoảng 3 triệu đồng.

Về dự phòng cấp 2 bao gồm phát hiện các tổn thương tân sản nội biểu mô cổ tử cung và xử trí phù hợp. Các phương pháp hiện được dùng trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung bao gồm xét nghiệm tế bào cổ tử cung, quan sát cổ tử cung với dung dịch acid acetic hoặc dung dịch Lugol, xét nghiệm ADN HPV. Sau khi được phát hiện, tổn thương tiền ung thư có thể được điều trị bằng các phương pháp cắt bỏ (khoét chóp bằng dao, dao điện, laser, LEEP) hoặc phá hủy (áp lạnh, đốt điện, hóa hơi bằng laser).

Về dự phòng cấp 3 bao gồm phát hiện các trường hợp ung thư xâm lấn ở giai đoạn sớm và điều trị tại các cơ sở có đủ điều kiện.

Xin cảm ơn bác sĩ!

Thanh Hải (thực hiện)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *