Nguy cơ và giải pháp ngăn chặn ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc tại Quảng Trị

Trong những năm qua nhờ có sự đầu tư lớn và liên tục từ các nguồn dự án Phòng chống sốt rét quốc gia, dự án Quỹ toàn cầu phòng chống Sốt rét, Lao và HIV nên công tác phòng chống sốt rét tại Việt nam nói chung và Quảng Trị nói riêng đã có những tiến bộ đáng kể, giảm cả số ca mắc, số ca tử vong và không có dịch sốt rét xảy ra. Nguyên nhân của tình hình trên là nhờ áp dụng các biện pháp can thiệp trên diện rộng: phân phối một số lượng lớn màn tẩm hóa chất diệt tồn lưu lâu dài, phun tồn lưu trong nhà, hàng triệu test chẩn đoán nhanh và các loại thuốc sốt rét hiệu lực cao (ACTs) có mặt tại các cơ sở y tế giúp cho công tác phát hiện và điều trị sớm bệnh nhân ngay từ tuyến đầu, giảm nguồn lây ra cộng đồng.

Hội thảo về phòng chống sốt rét vùng biên giới với các bạn Lào tại Lao bảo- Hướng Hóa năm 2016

Bên cạnh những thành tựu thu được, bệnh sốt rét vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp với sự di biến động dân cư lớn, mạng lưới y tế chưa ổn định, hạn chế về nguồn lực và gia tăng tình trạng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc. Hơn nữa, sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium ỏ người gây nên. Bệnh lây lan theo đường máu do muỗi Anopheles truyền. Có 5 loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) gây bệnh cho người là: Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovalePlasmodium knowlesi với chu kỳ phức tạp vừa ở muỗi vừa ở người và có nhiều thể (tư dưỡng, phân liệt, giao bào) và có nhiều giai đoạn (giai đoạn tiền hồng cầu, giai đoạn trong hồng cầu) nên việc điều trị gặp không ít khó khăn vì cùng lúc phải điều trị cắt cơn sốt, chống tái phát và chống lây lan.

Báo cáo sốt rét năm 2017 của Tổ chức Y tế thế giới cho biết: Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc, đặc biệt là Plasmodium falciparum kháng ACTs xuất hiện và lan rộng tại các nước tiểu vùng sông Mekông như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar, Việt nam, đặc biệt là vùng biên giới Thái Lan- Campuchia.

Tại Việt nam, theo Dự án phòng chống sốt rét quốc gia cho biết trong quá trình phòng chống sốt rét ở Việt Nam, P.falciparum đã dần kháng với hầu hết các loại thuốc sốt rét thông dụng với mức độ tùy theo loại thuốc và địa bàn. Ký sinh trùng P.falciparum kháng chloroquin được thông báo tại Nha Trang từ năm 1961. Những năm 1978 -1979 ở biên giới Tây Nam tỷ lệ kháng thuốc chung là 85% và tăng nhanh đến 100% vào năm 1981-1982 với đối tượng sốt rét sơ nhiễm (nhiễm lần đầu). Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (invitro), tỷ lệ kháng chloroquin là 74,3% năm 1990 (ở 23 điểm) đã tăng lên 86,5% trong giai đoạn 1991-1997. Từ năm 1980 trở lại đây hiện tượng P.falciparum kháng thuốc chloroquin lan khắp cả nước, đặc biệt ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên. Với Artemisinin và dẫn xuất tại một số điểm nghiên cứu gần đây cho thấy dihydroartemisin-piperaquine vẫn cho tỷ lệ khỏi bệnh cao (>90%) với chủng P.falciparum nhưng tỷ lệ còn ký sinh trùng vào ngày D3 khá cao (Gia Lai 22,8%; Quảng Nam 30%; Bình Phước 50%; Đăk Nông 29,2%; Ninh Thuận 10,9%; Khánh Hòa 17,4%). Trong 5 năm qua, tỷ lệ người bệnh có ký sinh trùng dương tính ở ngày thứ 3 (D3) sau điều trị tăng liên tục tại các tỉnh có sốt rét kháng thuốc và tỉnh Bình Phước là nơi có tình hình sốt rét kháng thuốc nghiêm trọng nhất với tỷ lệ D3 (+) tăng từ 38% lên 57%, tỷ lệ thất bại điều trị tăng từ 0% năm 2012 lên 7% vào năm 2014, 26% vào năm 2015 và 46,3% vào năm 2016. Tại Quảng Trị qua theo dõi tình hình sốt rét nhiều năm cho thấy tỷ lệ chủng ký sinh trùng sốt rét P.falciparum vẫn chiếm ưu thế (80-85%) và năm 2017 cũng ghi nhận có 5 ca ký sinh trùng P.falciparum dương tính vào ngày D3 sau khi điều trị tại huyện Hướng Hóa. Một trong những nguyên nhân gây kháng thuốc là tình trạng dân di biến động dân số lớn giữa các nước, các tỉnh trong khu vực có kháng thuốc, bệnh nhân không tuân thủ liệu trình điều trị.

Việc giao lưu trong thế giới hội nhập vì nhiều lý do khác nhau như du lịch, làm ăn, thăm thân nên ký sinh trùng dễ dàng được di chuyển từ nơi này sang nơi khác trong số đó có ký sinh trùng kháng thuốc mang từ nơi khác trở về. Hơn nữa, do điều kiện kinh tế, trong những năm gần đây Quảng Trị có sự gia tăng số người giao lưu đi lao động và làm ăn tại Châu Phi, các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mêkông, các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh biên giới phía Lào nên việc quản lý đối tượng giao lưu đi lao động tại các vùng sốt rét lưu hành trở về, qua lại làm ăn ở nước ngoài nhằm phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ Bộ Y tế là một mối quan tâm.

Để ngăn chặn tình hình và kiểm soát tốt bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc, Bộ Y tế ban hành quyết định số 4718/QĐ-BYT ngày 11 tháng 11 năm 2014 về kế hoạch hoạt động ngăn chặn sốt rét kháng thuốc artemisinin giai đoạn 2015-2017, phấn đấu vào năm 2025 cố gắng loại trừ sốt rét do Plasmodium falciparum – chủng sốt rét nặng nhất sau đó đến năm 2030 về cơ bản loại trừ tất cả các chủng sốt rét khác.

Cán bộ trạm y tế xã Xy kéo máu tìm ký sinh trùng sốt rét

Tại Quảng Trị, để dánh giá mức độ ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc thì bên cạnh các tổ chức quốc tế tài trợ nghiên cứu tình hình kháng thuốc và thử nghiệm một số loại thuốc sốt rét mới tại Hướng Hóa- một điểm nóng về sốt rét trước đây; hiện nay dự án Sáng kiến khu vực ngăn chặn và loại trừ sốt rét kháng thuốc Artemisinine 2018-2020 (RAI2E) đã bố trí một nguồn kinh phí hơn 500 triệu đồng thiết lập tại xã Xy- huyện Hướng Hóa một điểm theo dõi kháng thuốc cả P.falciparumP.vivax. Bên cạnh đó, cán bộ y tế các tuyến cần thực hiện một số khuyến cáo sau: Tổ chức tuyên truyền các biện pháp phòng chống sốt rét và tuyên truyền về hiệu quả uống thuốc sốt rét đúng, đủ liều khi bị nhiễm bệnh sốt rét cho người dân và khi có sốt cần đến ngay các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời. Chuẩn bị đầy đủ thuốc và các trang thiết bị vật tư xét nghiệm phục vụ công tác chẩn đoán, điều trị sốt rét các tuyến. Chuyển tuyến trên an toàn, kịp thời đối với những trường hợp diễn biến nặng. Áp dụng biện pháp điều trị có quan sát trực tiếp (DOTs), bệnh nhân được uống thuốc sốt rét dưới sự giám sát trực tiếp của nhân viên y tế, nếu trong vòng 30 phút bị nôn ra thì cần cho uống lại liều khác, nếu không uống được hoặc chuyển thành sốt rét nặng thì có thể nghiền nát thuốc bơm qua sonde dạ dày hay sử dụng thuốc tiêm bằng đường tiêm bắp hoặc đường tĩnh mạch; trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét được điều trị cắt cơn sốt và điều trị Primaquin 14 ngày đối với nhiễm P.vivax và 1 ngày đối với nhiễm P.falciparum theo phác đồ Bộ Y tế. Thay thế thuốc khác khi ký sinh trùng sốt rét không đáp ứng bằng các phác đồ chống kháng như Artesunate +Mefloquine (AM) hoặc Quinine sulfat + Doxycyclin hay Quinine + Clindanmycine hoặc các thuốc ACT khác (nếu có). Theo dõi và báo cáo kịp thời với tuyến trên các ca bệnh sốt rét và tình hình sạch ký sinh trùng sốt rét trong vòng ba ngày đầu (D3) sau khi sử dụng ACTs với P.falciparum.

Từ nay đến năm 2030 – mốc loại trừ sốt rét đã được vạch ra, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm hạ thấp số ca mắc sốt rét dưới 1/ 1000 dân sống trong vùng sốt rét lưu hành và không có ca nhiễm tại chỗ, ngăn chặn tình trạng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc đòi hỏi một sự đầu tư và cam kết bền vững của các cấp chính quyền, sự tham gia tích cực và chủ động của người dân thì việc loại trừ sốt rét ra khỏi Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng mới thành hiện thực.

                                                       ThsBs Lê Thạnh-Trung tâm Y tế dự phòng Quảng Trị

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *